Sunday, April 30, 2017

Hứa hẹn ngày ấy và bây giờ

image
Thành phố HCM đã phát triển mạnh sau 42 năm, đi kèm là những vấn đề về tệ nạn, ùn tắc, ô nhiễm 

Ngày 30/4/1975 đánh dấu sự kiện mà những người cộng sản Việt Nam và các ủng hộ viên gọi là “giải phóng miền nam, thống nhất đất nước”.

Để chiến thắng miền nam được Mỹ hậu thuẫn, cuộc chiến của những người từ miền bắc cần nguồn nhân lực khổng lồ. Để huy động nguồn lực này, miền bắc không chỉ dựa vào chuyên chế mà cả những biện pháp tuyên truyền.

Dịch giả Phạm Nguyên Trường, 66 tuổi, quê ở Thái Nguyên, nhớ lại:

image

“Người ta thuyết phục là đế quốc Mỹ xâm lược miền nam Việt Nam và đồng bào miền nam của chúng ta bị đế quốc Mỹ xâm lược, đàn áp các thứ. Lúc ấy tôi ở miền bắc mà. Cho nên là nhân dân miền bắc phải đóng góp việc giải phóng miền nam. Theo tôi hiểu thì cái chính nó là như thế, còn tất nhiên những cái bên dưới nó là ‘xóa bỏ chế độ người bóc lột người’, rồi xây dựng chế độ ‘tươi đẹp’ như ở miền bắc”.

Xã hội “tươi đẹp” mà Đảng Cộng sản hứa hẹn với nhân dân là một đất nước công bằng, không có kẻ giàu người nghèo, không còn nạn người bóc lột người, không có ăn mày, trộm cướp, mại dâm, nghiện ngập, và thất nghiệp.

image
Thành phố HCM vào cuối tháng 4 năm 2015, 40 năm sau khi chiến tranh kết thúc

Những viễn cảnh quá ư tốt đẹp này, thông qua tuyên truyền, đã là một phần động lực quan trọng về tinh thần để hàng triệu người dấn thân vào cuộc chiến khốc liệt, kết thúc bằng ngày 30/4/1975.
Nhiều sách báo, tác phẩm văn nghệ vẫn còn lưu lại những lời hứa hẹn này. Doanh nhân Lê Đình Hùng, sinh năm 1973, hiện sống ở thành phố HCM, nói:

“Những sáng tác của các nghệ sĩ hoặc rất nhiều thành phần của Việt Nam trong thời kỳ đó, hay những bộ phim như ‘Mối tình đầu’, hay là ‘Mùa gió chướng’ hay các bộ phim lớn của Việt Nam thì đều nói như vậy. Hay những tác phẩm báo chí bây giờ vẫn còn lưu trên internet. Và tôi cũng có đọc được rất nhiều những thông tin như vậy”.

Không lâu sau ngày chịu sự kiểm soát của chính quyền cộng sản, người miền nam “làm quen” với hai khái niệm mới là “sở hữu tập thể” và “chuyên chính vô sản”. Kể từ đó, chất lượng cuộc sống đã xuống dốc khác xa so với chính mức sống cũ, chưa nói đến những lời hứa tốt đẹp.

Dịch giả Phạm Nguyên Trường, hiện sống ở Vũng Tàu, diễn giải:
“Xã hội khi dựa vào sở hữu tập thể và chuyên chính vô sản thì sở hữu tập thể chỉ làm cho người ta ngày một gian dối hơn. Sở hữu tập thể làm cho xã hội băng hoại một cách rất nghiêm trọng. Đồng thời cái chuyên chính vô sản nó lại dành cho một số người những quyền mà ở một xã hội bình thường họ không thể có được. Họ có thể làm những điều không nằm trong những quy định nào của luật pháp mà sau đó họ cũng chẳng chịu trách nhiệm gì cả. Vì vậy, theo tôi hiểu thì xã hội đã xuống cấp một cách rất nghiêm trọng, kể cả miền bắc lẫn miền nam”.

image

Luật sư Trần Quốc Thuận, một cán bộ quốc hội đã nghỉ hưu ở Tp.HCM, mô tả tóm tắt về tình hình cách đây hơn 40 năm:

“Trong cương lĩnh của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nói là khuyến khích sản xuất công nông nghiệp, nhưng mà sau đó thì cải tạo công thương nghiệp dẫn đến hậu quả như chúng ta biết là nền kinh tế bị tê liệt và bao nhiêu người phải bỏ đất nước ra đi. Tình trạng kéo dài rồi sau đó may mà có đổi mới nên có phát triển lại”.

Cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam, thường được gọi tắt là “đổi mới”, bắt đầu từ năm 1986, 11 năm sau ngày bắc-nam thống nhất.

image

Sau nhiều sai lầm về điều hành kinh tế và những bất lợi về địa chính trị khi Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, mặc dù nhà nước vẫn kiểm soát một số lĩnh vực trọng yếu.

Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam được Ngân hàng Thế giới và một số tổ chức tài chính quốc tế đánh giá là có tốc độ tăng trưởng vào hàng nhanh nhất ở châu Á và trên thế giới.

image

Trong giai đoạn 1991 đến 2016, tăng trưởng trung bình đạt gần 7%/năm. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người năm 1991 là 188 đôla, thuộc nhóm nước nghèo nhất. Con số này của năm 2016 đã tăng gần 11 lần, đạt 2.050 đôla, đưa Việt Nam với dân số hơn 90 triệu người vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp.

Đại tá công an về hưu Đinh Đình Phú ở Hải Phòng nói về sự phát triển kinh tế này:
“Đất nước chúng tôi được phát triển một cách vượt bậc. Dân giàu lên trông thấy. Ngay thủ đô Hà Nội không còn có đất mà để ô tô ấy chứ. Nhiều thành phố lớn nhà cao tầng mọc lên nhiều lắm. Hải Phòng chúng tôi đang phát triển. Nông thôn mới bây giờ đang ngày càng giàu có. Xã hội rất là văn minh. Những thành quả sau hơn 40 năm thống nhất đất nước so với trước đã vượt bậc lắm rồi”.

Tuy nhiên, luật sư Trần Quốc Thuận và doanh nhân Lê Đình Hùng cho rằng để đánh giá sự tiến bộ, không nên chỉ so hiện tại với quá khứ của bản thân Việt Nam mà cần có sự so sánh rộng hơn.

Ông Thuận, người có hơn 40 năm tuổi đảng, cho rằng điều đáng suy nghĩ là dù Việt Nam đã tăng trưởng mạnh, song trong cùng khoảng thời gian hơn 4 thập kỷ, nhiều nước khác, kể cả đa số các nước láng giềng, đã đạt được những thành tựu to lớn hơn.

Ông Hùng, chủ Công ty vàng bạc đá quý Cửu Long, đưa ra ý kiến:

image

“Khi chúng ta không so sánh Việt Nam với các nước khác, thì chúng ta thấy Việt Nam rất là tốt, rất là đẹp, rất là phát triển, rất là tuyệt vời. Khoảng 20 năm trở lại đây, tôi đi hầu như các nước trên thế giới thì thấy rõ ràng Việt Nam còn hạn chế về nhiều mặt. Các mặt còn rất là yếu kém so với các nước phát triển, về văn hóa, kinh tế, chính trị. Những người lãnh đạo hay nói lấy cột mốc biến thành một Thượng Hải, biến thành một Singapore, rồi biến thành hòn ngọc Viễn Đông. Tức là những cái điều mà cho thấy rằng đảng, nhà nước, chính phủ, đặc biệt là nhân dân đã cố hết sức nhưng rõ ràng sự phát triển của Việt Nam vẫn có một khoảng cách khá xa với mặt bằng chung của những nước ASEAN hoặc những nước văn minh phát triển hàng đầu”.

Điều khiến nhiều người Việt trăn trở là sự thịnh vượng tăng lên sau 42 năm có mang lại xã hội tươi đẹp, công bằng cho tất cả mọi người như những lời hứa trong quá khứ của Đảng cộng sản? Ông Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Nhiều người giàu có, nhưng nhiều lúc không giải thích được tại sao họ giàu kinh khủng thế. Mà nhất là cái nạn tham nhũng, cái nạn hà hiếp nhân dân ngày càng xấu. Bao nhiêu nghị quyết của đảng về chống tham nhũng thì tham nhũng ngày càng lớn. Lúc đầu thì mấy triệu [đồng], rồi sau mấy trăm triệu, giờ là mấy tỉ, lên đến hàng trăm hàng ngàn tỉ [đồng]. Niềm tin của nhân dân tin vào người lãnh đạo, người cầm quyền, tin vào đảng là nó sa sút nghiêm trọng”.

Trong nhiều diễn đàn mạng xã hội, nhiều ý kiến “bất bình”, “nhức nhối” vì bất công ngày càng tăng, chênh lệch giàu nghèo mỗi lúc một nới rộng, nạn người bóc lột người, trộm cướp, mại dâm, nghiện ngập, thất nghiệp không những không bị xóa bỏ mà dường như còn nặng nề hơn xưa.

Dân số tăng lên nhiều trong khi công ăn việc làm không được tạo ra tương xứng khiến nhiều người tìm cách đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài để có nguồn sống, đa phần là các công việc vất vả, nặng nhọc.

Nguy cơ đói nghèo đẩy nhiều phụ nữ đến chỗ lấy chồng ngoại quốc hoặc làm gái mại dâm cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài.

image

Đầu năm 2016, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính Việt Nam có khoảng 100.000 người bán dâm, trong đó có nhiều phụ nữ hoạt động ở các nước trong vùng. Việt Nam nói con số trong hồ sơ quản lý được là hơn 11.000 người bán dâm ở 63 tỉnh thành.

Trong gần 10 năm trở lại đây, con số phụ nữ Việt lấy chồng ngoại với mục đích ‘đổi đời’ ước tính khoảng 100.000 người mỗi năm. Cô dâu Việt thường kết hôn với người Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây ngày càng nhiều người lấy chồng Trung Cộng, khi mức sống của nước láng giếng phương bắc đã gấp 4 lần Việt Nam, theo các con số chính thức.

image

Về lao động xuất khẩu, theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2016, có hơn 126 nghìn người làm việc ở 29 quốc gia, kể cả ở các nước Bắc Phi lẫn Lào và Campuchia, hai nước láng giềng thường được coi là không phát triển bằng Việt Nam. Số người Việt Nam làm việc bất hợp pháp ở các nước láng giềng được ước tính cũng lên đến hàng vạn người.

Cựu đại tá công an Đinh Đình Phú, người từng đấu tranh chống tham nhũng đất đai, tỏ ra bình tĩnh trước tất cả những thông tin này:
“Bây giờ không ai dùng cái từ ‘người bóc lột người’. Tại vì đã là kinh tế thị trường, người nào có tài thì người đấy có tiền. Thế còn kinh tế thị trường tất nhiên là cái giàu nghèo, những cái tiêu cực là hai mặt của vấn đề. Nhà nước phải khắc phục cái đó. Thế giới bây giờ là mái nhà chung rồi, cái quyền tự do của người lao động, nơi nào người ta thu nhập cao thì nhà nước này sẵn sàng cho họ đi, cho họ làm. Tiền cao hơn họ lại gửi về xây dựng quê hương đất nước, xây dựng gia đình. Còn trong cặn bã của xã hội thì có những cái thế lực bảo thủ, lạc hậu tác động từ bên ngoài vào thì tránh làm sao khỏi những cái tiêu cực xã hội được. Cái đó là đương nhiên thôi”.

Nhưng doanh nhân Lê Đình Hùng lại thấy lo ngại:
“Nếu nói về mặt xã hội, về mặt bất công, chúng ta có quá nhiều vấn đề đã xảy ra. Những sự bất công đó đã và đang làm cho xã hội biến đổi, biến dạng, xung đột, mâu thuẫn. Sau cuộc cách mạng internet, công nghệ là nền tảng kết nối, nó xóa nhòa mọi ranh giới, người dân có cơ hội mở mang tầm mắt của mình. Nó làm cho người dân hiểu được vấn nạn của xã hội, của đất nước, của dân tộc, đã và đang là một trong những cái bức xúc mà người ta đang đấu tranh để đòi lại cái quyền lợi của mình”.

image

Dịch giả Phạm Nguyên Trường thậm chí đánh giá bi quan hơn. Ông cho rằng hàng chục năm áp dụng các chính sách chính trị, kinh tế, giáo dục đầy những khiếm khuyết đã đưa Việt Nam đến tình trạng mà ông gọi là “cuộc khủng hoảng toàn diện”.

Ông nói:
“Cuộc khủng hoảng này muốn giải quyết nó thì phải trở lại với những cái thế giới hiện nay người ta đang làm. Tức là xã hội dân chủ, tự do. Trong đó có đa nguyên, đa đảng, tam quyền phân lập. Rồi thì nhà nước không can thiệp, không áp đặt hệ tư tưởng vào hệ thống giáo dục.

Tóm lại, sự độc quyền của Đảng Cộng sản hiện nay chính là nguyên nhân chính gây ra những cái tệ nạn mà chúng ta đang thấy hiện nay”.

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của internet, doanh nhân Lê Đình Hùng tin rằng theo thời gian, người dân biết cách tác động để chính quyền thay đổi và cải thiện tình hình:

“Chính người dân sẽ nhờ vào khoa học công nghệ, internet để điều chỉnh và làm áp lực cho chính quyền, cho chính phủ, cho nhà nước, để buộc họ đi theo sự văn minh tiến bộ, đó là tự do dân chủ trong tương lai”. 

image
Một góc khác của TpHCM

42 năm đã qua, những người cộng sản đã thực hiện được lời hứa ‘thống nhất đất nước,’ nhưng đối với nhiều người dân, lời hứa về một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không có tệ nạn vẫn còn cách xa thực tế cả một khoảng cách lớn.

image

VNCH và những định mệnh xui xẻo

image

Nhìn lại lịch sử, chúng tôi thấy câu ngạn ngữ "hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai" sao nó đúng quá: tai bay vạ gió thì luôn theo nhau mà đến với Việt Nam Cộng Hòa, còn những cái may mắn thì ít khi nó trở lại.

Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm: sau bao nhiêu gian lao với Pháp, ông đã khai sinh ra nền Cộng Hòa.

Sau đó xây dựng được những thành tích vẻ vang của "Năm Năm Vàng Son 1955-1960," (độc giả xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 13). Nhưng vừa tới năm 1961 thì ông phải đối đầu ngay với những giao động khôn lường: nửa năm đầu thì Tổng thống John F. Kennedy hết sức ủng hộ, tới nửa năm sau, bang giao Việt - Mỹ rơi vào khủng hoảng.

Sau cùng thì trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng vào dịp Lễ Phật Đản thứ 2507 (ngày 8/5/1963), TT Kennedy gửi ông Henry Cabot Lodge sang làm Đại sứ thay thế ĐS Frederick Nolting về hưu.

image

Nolting là người ủng hộ ông Diệm. Ông Lodge là người mưu mô, nham hiểm, có nhiều thành kiến về ông Diệm. 

Vì tham vọng muốn lập thành tích để ra ứng cứ tổng thống vào năm 1964 cho nên ông đã dùng đủ mọi mưu lược triệt tiêu Tổng thống Diệm với hậu quả là phá nát nền Đệ Nhất Cộng Hòa mùa Thu 1963. Tôi gọi ông này là Đao phủ HENRY I.

Tới Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại gặp ngay một tay HENRY nữa - Henry A. Kissinger. Về ông này, ta có thể đặt câu hỏi: ở một cường quốc vĩ đại như Hoa Kỳ, biết bao nhiêu người vừa tài, vừa đức, vừa có tâm, vừa có tầm mà lại không lên được tới địa vị quyền hành như ông Kissinger?

image 

Ông này còn mưu lược, gian dối hơn Cabot Lodge gấp mấy lần. Kissinger đã đạo diễn chính sách của Hoa Kỳ về Việt Nam trong gần sáu năm rưỡi, tức là trên hai phần ba thời gian của Đệ Nhị Cộng Hòa.

Cái nguy hiểm cho cả Mỹ lẫn Miền Nam là ông này thích hành động bí mật và một mình.

image
Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Đại Hàn Lý Thừa Vãn và Tổng thống Đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm vào năm 1958

Trong một cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Ý, bà Oriana Fallaci, ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một mình:

"Điểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi, không có gì khác. Có thể là không có cả súng nữa, là vì gã ta không cần bắn. Gã chỉ hành động bằng cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gã là một cao bồi miền Tây."
Tôi gọi ông này là Đao phủ HENRY II.

Nhân dịp 30 tháng Tư, chúng tôi xin chia sẻ với đồng hương một vài cảm nghĩ về số phận long đong của cả hai nền Cộng Hòa vào lúc hoàng hôn thê lương ảm đạm.

Khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ

image

Những cái xui xẻo đã xảy ra liên tục cho Tổng thống Ngô Đình Diệm trong ba ngày cuối cùng của cuộc đời ông (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 22).

Ngày 3/03/1963 Tòa Bạch Ốc gửi mật điện chỉ thị cho Đại sứ Lodge là: "phải thông báo đầy đủ cho Tướng Harkins (tư lệnh quân đội Mỹ ở Miền Nam) trong mọi giai đoạn, và sử dụng những khuyến cáo của cả Harkins lẫn Smith," và "tất cả chỉ thị cho Conein (người trung gian với nhóm tướng lãnh đảo chính) cũng phải được thông qua ý kiến của Harkins và Smith." Nhưng vào những giờ phút chót, ông Lodge đã trái lệnh Tổng thống, không chịu bàn bạc, thông báo gì với ông Harkins (vì Harkins hết sức bênh vực TT Diệm);

image
Cố vấn Ngô Đình Nhu, người bị sát hại cùng anh ông, Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa năm 1963

Cùng ngày 30/03, Đại sứ Lodge hoãn chuyến đi Washington. Ông đã định đi vào ngày 31 tháng 10. Chỉ thị từ Washington là khi ông Lodge đi vắng thì Tướng Harkins sẽ thay thế ông để điều khiển ở Sàigòn. Nếu ông Harkins ở lại thì khó có thể đảo chính. Sau cùng, Washington lại quyết định cho phép ông Lodge hoãn chuyến đi vài ngày. Lodge muốn ở lại Sàigòn để theo rõi đảo chính ngày hôm sau.

Ngày 31 tháng 10 là ngày trước đảo chính. Vì ngày đảo chính (mồng 1 tháng 11) là ngày Lễ Các Thánh, ngày lễ của người Công giáo, nên ông Diệm có thể đi kinh lý hoặc thăm viếng chỗ này chỗ kia. Cho nên Tướng Trần Văn Đôn đề nghị với TT Diệm là ông nên tiếp xã giao Đô đốc Harry Felt (Tư lệnh quân lực Mỹ Thái Bình Dương) vừa tới Sàigòn. Đề nghị như vậy là để có cớ thuyết phục TT Diệm ở lại Dinh Gia Long trong ngày đảo chính cho chắc ăn.

image

Chính ông Đôn đã viết lại trong cuốn hồi ký Our Endless War - Inside Vietnam:

"Sáng ngày 31 tháng 10, tôi vào dinh gặp Tổng thống Diệm để hỏi về vấn đề Đô đốc Felt đến Sàigòn, và dò hỏi xem có phải vì ông không có mặt ở Sàigòn vào ngày mai nên không tiếp ông Felt được hay không? Ông Diệm ngạc nhiên vì không biết tin ông Felt tới Sàigòn."

Vì Tướng Đôn đề nghị, TT Diệm đã quyết định ở lại Sài gòn để tiếp Đô đốc Felt vào ngày 1/11.

Buổi sáng ngày 1 tháng 11, khi TT Diệm tiếp hai ông Felt và Lodge, ông bất chợt hỏi ông Lodge rằng ông biết đang có âm mưu đảo chính nhưng không biết rõ tướng tá nào muốn đảo chính. Ông Lodge trả lời một cách quanh co: "Tôi không nghĩ rằng Tổng thống phải lo ngại gì cả." Như vậy là để đánh lừa ông Diệm;

image

Một chuyện nữa hết sức quan trọng, đó là cuối cùng, như đã đề cập trên đây, Tổng thống Diệm đã muốn làm một nghĩa cử ôn hòa với cả Đại sứ Lodge, cả Tổng thống Hoa kỳ. Vì biết ông Lodge sắp lên đường về Washington, ông dặn ông Lodge là khi về tới Washington thì nên gặp hai ông Colby (trưởng trạm CIA ở Sàigòn trước đây) và Nolting (cựu Đại sứ) để bàn bạc về vấn đề giải quyết chuyện ông Nhu cho ổn thỏa.

Rồi ông gửi một thông điệp cho TT Kennedy nói:

"Tôi bằng lòng chấp nhận tất cả những đề nghị của Tổng thống Kennedy một cách hết sức nghiêm chỉnh, và muốn thực sự thi hành những điều này, chỉ còn vấn đề thời gian tính."

image
Tổng thống JF Kennedy bị ám sát ngày 22/11 cũng trong năm 1963 ở Dallas

Chắc ông Lodge cũng còn một chút lương tâm và cho rằng như vậy là đã có thể đi tới chỗ hòa hoãn với ông Diệm được rồi, nên ông có báo cáo về Washington thông điệp này.

Thế nhưng, vô tình hay hữu ý, theo Mark Moyar thì ông Lodge lại gửi điện tín này theo thủ tục 'ưu tiên thấp nhất' nên khi thông điệp này tới Washington thì tiếng súng đã bắt đầu nổ ở Sàigòn rồi. Theo một tác giả khác, James W. Douglas trong cuốn JFK and The Unspeakable thì Lodge đã trì hoãn để khi Kennedy nhận được điện tín này thì đã quá trễ.

image 

Ngày 1 tháng 11 cũng là ngày sinh nhật của Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, là người trung thành với TT Diệm và đã cứu ông trong dịp đảo chính tháng 2 năm 1962.

Sau khi chơi quần vợt với một số đồng đội, họ mời ông dùng cơm trưa để mừng sinh nhật thứ 36 của ông. Thoạt đầu, ông đã từ chối. Buổi sáng hôm ấy, ông cũng đã chột dạ vì thấy có những cuộc chuyển quân hơi lạ nên muốn theo dõi để báo cáo cho ông Diệm. Nhưng rồi viên sĩ quan phụ tá cố nài ép nên ông nể lòng. Lúc đang trên đường đi tới một quán nhậu ở ngoại ô Sàigòn, ông đã bị sát hại. Như vậy là ông Quyền đã đi trước và dọn đường tới nghĩa trang cho hai ông Diệm-Nhu.

Theo tác giả Mark Moyar (trong cuốn Triumph Forsaken) thì "khi cuộc đảo chính sắp bắt đầu, một viên sĩ quan chỉ huy lữ đoàn Lực lượng Đặc biệt đề nghị với Tổng thống Diệm cho ông dùng xe thiết giáp tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính để bắt trọn ổ số Tướng lãnh đang họp hành. Thành công là chắc chắn, viên sĩ quan cố thuyết phục ông Diệm, vì chỉ có một số lính đang tập sự đứng gác ở Tổng Tham Mưu, và đúng như vậy.

Nếu những tướng chủ mưu bị bắt thì quân đội đảo chính tất sẽ bị rối loạn.

Nhưng TT Diệm không cho phép, ông nói: "Quân đội phải tiết kiệm súng đạn để chống Cộng, và tránh đổ máu," rồi thêm: "Chỉ cần bảo vệ Dinh Gia Long, nhà Bưu điện và Tổng Nha Ngân khố."

image
GS Nguyễn Tiến Hưng gọi ông Henry Kissinger (trái) là Đao phủ Henry II

Như đề cập trên đây, sau khi tiếng súng đảo chính đã vang dội, Tổng thống Diệm gọi giây nói cho Đại sứ Lodge vào lúc 4 giờ 30 chiều (ngày 1 tháng 11) để hỏi về thái độ của Hoa kỳ. Ông Lodge trả lời lơ mơ là ông không biết gì để nói nhưng có đề nghị với ông Diệm là sẽ cho xe cắm cờ Mỹ đến Dinh Gia Long đưa ông Diệm ra phi trường, rồi dùng máy bay riêng của đại sứ để chở ông ra khỏi nước, nhưng TT Diệm từ chối. Nhưng trái với điều mà nhiều tác giả đã viết, cuộc điện đàm này không phải là trao đổi cuối cùng giữa hai người. Vẫn còn một cú điện thoại khác nữa.

image

Cú điện thoại thứ hai là lúc ở tại nhà thờ Cha Tam, ông Diệm đã gọi ông Lodge để yêu cầu giúp đỡ phương tiện để ra đi, vì ông Lodge đã hứa rằng "Nếu tôi có thể làm được gì để giúp cho an toàn của Ngài thì Ngài cứ gọi tôi." Nhưng bây giờ ông Lodge lại trả lời là Tòa Đại sứ Mỹ chỉ có thể cho ông trú ẩn và bất cứ điều gì khác, nhưng không thể giúp phương tiện chuyên chở ông ra khỏi nước. Như vậy là trái hẳn với đề nghị của ông Lodge chiều hôm trước. Ông Mike Dunn, Phụ tá trưởng của đại sứ - là người đứng bên ông Lodge khi ông này nói diện thoại với ông Diệm - đã xin tự nguyện đến chở hai ông Diệm, Nhu đi để bảo vệ cho hai ông, nhưng ông Lodge đã không đồng ý! "Tôi thật ngạc nhiên là ta đã không làm gì để giúp cho hai anh em họ Ngô," ông Dunn phàn nàn.

Một nhân chứng nữa cũng khẳng định về việc này là nhà báo Joseph Fried của tờ New York Daily News trong một báo cáo vào ngày 5 tháng 11, 1963.

Sau khi ông Lodge từ chối giúp đỡ, Tổng thống Diệm hoàn toàn thất vọng, khoảng 7 giờ sáng ngày mồng 2 ông quyết định gọi điện thoại cho Bộ Chỉ huy Đảo Chánh thông báo là ông đã ra lệnh cho lính phòng vệ Phủ tổng thống ngưng bắn và ông đầu hàng vô điều kiện.

Đây là một việc không may mắn nhất cho TT Diệm vì cho tới ngày đảo chính, nhóm tướng lãnh vẫn còn nghi ngờ nhau, chưa có sự tin tưởng và đồng ý hoàn toàn. Chính TT Thiệu đã kể lại (với Phụ Tá Nguyễn Văn Ngân) là "nếu ông Diệm và ông Nhu không ra trình diện (gọi điện thoại) vào sáng ngày 2 tháng 11, chỉ cần nán lại tới trưa cùng ngày thì các tướng lãnh sẽ lên máy bay chạy hết vì lo sợ và nghi ngờ lẫn nhau" là đã mắc mưu ông Nhu.

Trước đó, trong giai đoạn chuẩn bị đảo chính, Tướng Paul Harkins, Tư lệnh Mỹ ở Việt Nam cũng báo cáo về cho tướng Maxwell Taylor, Chủ tịch Tham Mưu Liên Quân về nhóm tướng lãnh:

image
Bà Nhu, Trần Lệ Xuân cùng con gái trong một chuyến công du nước ngoài

"Tôi thấy chúng ta có một tổ chức của nhóm người thật hoang mang trong đó mọi người nghi ngờ mọi người khác."

Các tướng lãnh yêu cầu Conein sắp xếp máy bay, nhưng CIA trả lời là cần 24 giờ thì mới thu xếp được, nhưng thật ra là đã có sẵn một chiếc máy bay ở Sàigòn để chở Đại sứ Lodge về Washington và ông này đã hoãn chuyến đi. Dù sao, khi nghe thấy nói đến 24 giờ, Tướng Minh gắt lên "Chúng tôi không giữ họ lâu thêm được nữa."

Sau này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó là Đại tá) còn kể lại với chúng tôi rằng:

"Khi được lệnh đánh Dinh Gia Long, ông đã có ý định tìm TT Diệm và mời ông lên xe jeep mở mui để về Bộ TTM rồi đưa ông đi ra ngoại quốc, nhưng khi chiếm Dinh xong thì thấy ông Diệm đã đi rồi. Ông Thiệu thêm: "Nếu như TT Diệm đi xe jeep mui trần như vậy thì không ai dám sát hại ông..."

Đến khi ông Thiệu được tin TT Diệm gọi điện thoại về Bộ Tổng Tham Mưu, ông còn đề nghị với Tướng Minh để cho ông đi đón TT Diệm từ nhà thờ Cha Tam, nhưng ông Minh gạt đi và nói "Khỏi phải lo, đã có người rồi."

Bất hạnh cuối cùng của Đệ Nhị Cộng Hòa

Tháng 2/1972, TT Nixon đi Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao. Dịp này ông đã đảo ngược "chính sách ngăn chặn Trung Quốc" (containment of China). Khi mở cửa Bắc Kinh thì ông đóng cửa Sàigòn, và khi bắt tay với ông Mao thì buông ngay tay ông Thiệu (như chúng tôi đã viết trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu).

Sau đó Nixon - Kissinger áp lực Miền Nam ký Hiệp Định Paris (1/1973). Từ đó những cái xui xui xẻo tới dồn dập:

Ngược lại với những cam kết của TT Nixon là sẽ tiếp tục viện trợ, VNCH vừa ký kết một hiệp định hết sức bất lợi thì lại bị cắt xén viện trợ thật bất ngờ và thật nhanh;

image

Còn được chút ít viện trợ thì lại bị ngay cú 'sốc' siêu lạm phát (do chiến tranh Israel - Ai Cập vào tháng 10/1973) làm tiêu hao mãi lực của viện trợ. Một thùng dầu thô đang từ 4USD vọt lên 12 USD.

Tới khi viên trợ bị cắt hết, Miền Nam xoay xở đi vay Quốc Vương xứ Saudi để mua tiếp liệu. Vua Saud al Faisal vừa đồng ý cho vay 300 triệu USD thì lại bị người cháu ruột hạ sát thê thảm ngay trong hoàng cung. Ông nằm xuống vào đúng ngày cố đô Huế bị bỏ ngỏ.

image
Tổng thống Johnson và Tổng thống Thiệu tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Việt 20/07/1968 ở Honolulu

Trên chiến trường, lúc bị tấn công, Ban Mê Thuột gọi không quân đến yểm trợ. Phi vụ vừa tới thả bom thì một trái rơi trúng ngay Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23;

Mất Ban Mê Thuột, có lệnh rút Pleiku. Ngày 18 tháng 3, quân dân hoảng hốt rút trên con đường 7B đẫm máu. Vừa về tới Phú Bổn thì bị kẹt ngay vì công binh chưa làm xong cây cầu nổi như đã dự tính: đoàn người di tản chịu thêm một trận pháo kích bên bờ sông Ea Pha. Sau này Tổng Thống Thiệu kể lại cho tôi rằng ông vẫn còn thắc mắc về chuyện tại sao Công Binh không làm xong cái cầu nổi? Đại tướng Viên cũng cho rằng "Sư đoàn 320 của cộng sản sẽ không bao giờ truy kích kịp đoàn quân nếu chúng ta có được cầu qua sông thiết lập đúng lúc, và giữ đuợc trật tự trong đoàn dân quân di tản." Vì cầu không xong, cho nên:

Hai ngày sau mới rời đuợc Hậu Bổn. Đoàn dân quân vừa tiến được chừng 20 cây số là khựng ngay, vì "trước mặt đoàn di tản là Phú Túc đả bị địch chiếm."

Khi không quân tới cứu,"một trái bom nữa rơi vào đoàn quân đi đầu, gây thương vong cho gần một tiểu đoàn Biệt Động Quân."

Tôi đang dự một buổi họp đầy căng thẳng tại Dinh Độc Lập sau cuộc rút lui thảm hại này thì Đại Tá Cầm (Chánh Văn phòng Tổng Thống) bước vào đưa một tin bất hạnh: ông Paul Léandri, trưởng phòng thông tấn xã Agence France Presse ở Sàigòn bị cảnh sát bắn chết.

Léandri loan tin "có số lính người Thượng (Montagnards) đã nổi loạn ở Hậu Bổn, chống lại quân đội VNCH'. Nha Cảnh Sát mời ông đến để thẩm vấn. Sau vài tiếng đồng hồ bị giữ lại, Leandri bỗng nhiên bước ra khỏi phòng, nhảy lên xe và lái vút đi. Khi cảnh sát huýt còi ngừng, ông cứ tiếp tục phóng. Cảnh sát rút súng bắn vài phát vào bánh xe để giữ lại. Chẳng may một viên đạn lạc trúng ngay vao người. Leandri gục chết tại chỗ.

Phóng viên ngoại quốc vô cùng phẫn uất, phản kháng kịch liệt. Trong một tình hình vô cùng bất lợi cho Miền Nam về tất cả mọi phương diện quân sự, chính trị, kinh tế, và bộ mặt Miền Nam đã bị bôi nhọ bởi những hình ảnh dã man, độc tài, tham nhũng, bây giờ hình ảnh Leandri bị bắn gục chết lại phóng đi khắp thế giới! Tổng Thống Thiệu nghe tin này đã tái mặt. Ông liền chấm dứt, bước ra khỏi phòng họp.

image 

Mấy ngày hôm sau, trong một phiên họp khác ở Văn Phòng Thủ Tướng, lại có tin chiếc máy bay vận chuyển C-5A chở đám trẻ em mồ côi vừa cất cánh ở Tân Sơn Nhất đã bị nổ tan. Chết trên 200 trăm em bé! Vào chính lúc đó lại đang có những chống đối ngay tại Washington về việc di tản người Việt Nam bằng máy bay Mỹ.

Ôi sao tin tức nó dồn dập, bi đát đến thế vào lúc con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp chìm đắm!
Suy gẫm như vậy, nhiều nguời trong đó có tác giả, cũng chỉ còn có cách là nghĩ đến chữ 'mệnh'.

...Ngày nay nhìn lại, riêng phần tác giả thì cũng chỉ có một mong ước, đó là những thế hệ con cháu được sống trong thời đại kỹ thuật, có nhiều phương tiện và hoàn cảnh thuận lợi để liên lạc nên sẽ có thể gần gũi nhau hơn, thông cảm nhau hơn để rồi từng bước có thể giúp cho vận mệnh đất nước trở nên tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn.

Chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là niềm hy vọng của đại đa số người dân Việt Nam hôm nay.



GS Nguyễn Tiến Hưng

image